Chuyên mục "Dữ liệu bảng"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Dữ liệu bảng. Hiển thị tất cả bài đăng

Ước lượng của các mô hình kinh tế như growth models (Lee et al., 1997), development economics (McNabb and LeMay-Boucher, 2014), productivity analysis (Eberhardt et al., 2012), consumption models (Shin et al., 1999)… yêu cầu tính không đồng nhất ở các hệ số (heterogeneous coefficients). Phần lớn các lý thuyết kinh tế lượng liên quan đến mô hình hệ số không đồng nhất có thể kể đến như (Zellner, 1962; Pesaran and Smith, 1995; Shin et al., 1999) và gần đây là các lý thuyết xét đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các đặc điểm riêng ở mỗi đơn vị bảng (Pesaran, 2006; Chudik and Pesaran, 2015).

Phần chuyên đề này lần lượt giới thiệu các nội dung sau:
Lệnh xtdcce2 sẽ ước lượng các mô hình bảng động với sự phụ thuộc chéo (CSD), ước lượng mối quan hệ dài hạn theo PMG, MG, thay thế xtpmg, xtmg
Trong các mô hình bảng động tuyến tính, chúng ta đã từng làm quen hoặc biết qua các khái niệm về đồng tích hợp, mối quan hệ ngắn hạn, dài hạn trong các ước lượng FMOLS, DOLS hoặc PMG, MG hoặc DFE.
Theo đó, nếu tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp giữa các chuỗi I(1) thì xem xét sử dụng FMOLS/DOLS . Nếu tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp giữa các chuỗi I(1) và I(0) thì xem xét sử dụng một ước lượng phù hợp trong nhóm PMG/MG/DFE.
Tùy thuộc vào mối quan hệ đồng tích giữa các chuỗi mà chúng ta lựa chọn ước lượng phù hợp. Chọn ước lượng FMOLS khi hệ số phương sai dài hạn ước lượng không đồng nhất và ngược lại chọn DOLS khi hệ số phương sai dài hạn là đồng nhất.

Ước lượng DFE yêu cầu các hệ số ước lượng ngắn hạn và dài hạn là đồng nhất giữa các đơn vị bảng. Ước lượng PMG yêu cầu các hệ số ước lượng dài hạn là đồng nhất. Trong khi đó, ước lượng MG cho phép các hệ số ước lượng ngắn hạn và dài hạn thay đổi ngẫu nhiên giữa các đơn vị bảng. Hệ số ước lượng khi đó sẽ được tính bằng trung bình cộng của các hệ số ước tính riêng rẽ của các đơn vị bảng.

GMM là một ước lượng phổ biến cho các mô hình với biến nội sinh, đặc biệt là các mô hình động với các phụ thuộc biến trễ (lagged dependent variables) khi số mốc thời gian ngắn. Việc ước lượng mô hình này chủ yếu dựa vào phương pháp moment tổng quát (GMM - Generalized Method of Moments) (Hansen, 1982). 
Một chuyên đề đầy đủ nhất về các phương pháp ước lượng GMM với các bước thực hành cụ thể và các hướng dẫn đọc kết quả GMM chi tiết qua câu lệnh xtdpdgmm
Trong lý thuyết có khá nhiều ước lượng GMM được đề xuất, dựa trên các tập điều kiện moment (moment conditions) khác nhau (Anderson and Hsiao, 1981, 1982; Arellano and Bond, 1991; Ahn and Schmidt, 1995; Arellano and Bover, 1995; Blundell and Bond, 1998). Bài viết sẽ đồng thời giới thiệu và minh họa cách ước lượng các mô hình bảng động tuyến tính bằng phương pháp GMM qua câu lệnh xtdpdgmm trên Stata. Câu lệnh xtdpdgmm được thực hiện trong sự so sánh với các câu lệnh ước lượng khác trước đó như xtabond, xtabond2, xtdpdsys, xtdpd và gmm. Toàn bộ quá trình thực hiện được minh họa dựa trên bộ dữ liệu của Arellano and Bond (1991).
Đây được xem là một chuyên đề đầy đủ nhất về các phương pháp ước lượng GMM. 
Mục tiêu của chuyên đề GMM này giúp người đọc nắm bắt được ý tưởng của phương pháp GMM, phân biệt được các khái niệm điều kiện moment, điều kiện trực giao, biến công cụ dạng GMM (GMM-type) và biến công cụ chuẩn (Standard instruments) cũng như nắm được số ràng buộc, các phương pháp biến đổi, cách tính số biến công cụ. Chuyên đề còn giúp người đọc so sánh và biết được khi nào sử dụng GMM một bước hay hai bước, DGMM hay SGMM. Các kiểm định về tính phù hợp của các tập biến công cụ, sự phù hợp của mô hình cũng như kiểm định lựa chọn mô hình. 
Và trên tất cả, chuyên đề sẽ minh họa cách hiện thực hóa các ước lượng này trên Stata. Do nội dung của phần giới thiệu và minh họa ước lượng các mô hình GMM bằng câu lệnh xtdpdgmm khá dài (gần 20 trang A4) nên chủ đề này được chia thành 6 bài viết cụ thể như sau:
  1. Giới thiệu câu lệnh xtdpdgmm
  2. Ước lượng DGMM
  3. Ước lượng SGMM
  4. Ước lượng GMM phi tuyến
  5. So sánh các phương pháp GMM qua các câu lệnh trên Stata
  6. Quy trình ước lượng GMM theo Kripfganz (2019)
Đầu tiên là phần giới thiệu về câu lệnh mới trong việc xử lý và ước lượng các mô hình GMM là lệnh xtdpdgmm của Kripfganz. Nội dung của bài chia làm 3 phần với phần đầu tập trung vào diễn giải, hướng dẫn chi tiết cách thiết lập các tùy chọn của lệnh xtdpdgmm. Phần tiếp theo là minh họa cách thực hiện các ước lượng của (Anderson and Hsiao, 1981, 1982; Arellano and Bond, 1991; Ahn and Schmidt, 1995; Arellano and Bover, 1995; Blundell and Bond, 1998) qua câu lệnh xtdpdgmm. Và cuối cùng là một số ghi chú quan trọng về cách sử dụng tùy chọn collapse.

Khi mô hình tồn tại các chuỗi dừng I(1) thì nhiều khả năng giữa chúng có mối quan hệ đồng tích hợp. Khi đó, tùy thuộc vào bản chất của mối quan hệ đồng tích hợp mà chúng ta có thể chọn nhóm phương pháp ước lượng FMOLS, DOLS hoặc nhóm phương pháp PMG, MG, DFE. Cơ sở của sự lựa chọn này dựa trên giả định về tính đồng nhất giữa các đơn vị bảng ở ma trận phương sai - hiệp phương sai của phần dư hoặc các hệ số ước lượng trong ngắn hạn và dài hạn. Nội dung trình bày này sẽ giới thiệu các kiểm định dùng để kiểm tra mối quan hệ đồng tích hợp trong dữ liệu bảng, giới thiệu và minh họa cách thực hiện các ước lượng FMOLS/DOLS, MG/PMG/DFE trên Stata. Ngoài ra, vấn đề kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa các chuỗi có mối quan hệ đồng tích hợp cũng được giới thiệu và minh họa thực hành trên Stata ở video này. 

Bài viết tham khảo:
  • https://vietlod.com/kiem-tra-dong-ket-hop-du-lieu-bang-panel-cointegration-eviews
  • https://vietlod.com/thiet-lap-uoc-luong-fmols-dols-tren-eviews
  • https://vietlod.com/minh-hoa-uoc-luong-fmols-dols-tren-eviews
  • https://vietlod.com/phuong-phap-pmg-pooled-mean-group
  • https://vietlod.com/minh-hoa-uoc-luong-pmg-tren-eviews



Phương pháp ước lượng GMM được sử dụng để giải quyết vấn đề biến nội sinh trong các mô hình bảng động tuyến tính. Vậy ước lượng GMM là gì? Có những phương pháp GMM nào? Sự khác nhau của những phương pháp đó ra sao? Phần trình bày bên dưới sẽ lần lượt giới thiệu các ước lượng GMM từ IV-GMM (Anderson and Hsiao, 1982), DGMM (Arellano and Bond, 1991; Arellano and Bover, 1995; Ahn and Schmidt, 1995) và SGMM (Blundell and Bond, 2000) từ các khái niệm cơ bản như điều kiện moment (moment conditions) là gì? biến ngoại sinh ngặt (strictly exogenous variables), biến xác định trước (pre-determined variables) là gì? Các kiểm định sự phù hợp của mô hình như kiểm định sự tự tương quan, kiểm định tính hợp lí của các biến công cụ.

Tham khảo chi tiết:





Biến nội sinh là biến có tương quan với phần dư trong mô hình ước lượng. Bên cạnh bản chất của các mối quan hệ thì một trong những nguyên nhân phổ biến gây ra vấn đề biến nội sinh là bỏ sót biến. Các phương pháp phổ biến để giải quyết (xử lí) vấn đề biến nội sinh có thể kể đến như ước lượng biến công cụ (IV), hồi quy hai giai đoạn (2SLS), ba giai đoạn (3SLS)... hoặc ước lượng GMM. Nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề biến nội sinh là tìm một tập các biến công cụ để làm đại diện cho biến nội sinh trong mô hình. Theo đó, một biến công cụ phù hợp phải thỏa mãn điều kiện cần (không tương quan với phần dư) và điều kiện đủ (có tương quan mạnh với biến nội sinh). Sự khác nhau trong việc xác định tập biến công cụ và số biến công cụ được sử dụng làm đại diện cho biến nội sinh dẫn đến sự hình thành các nhóm phương pháp khác nhau. Phần nội dung này sẽ lần lượt giới thiệu biến nội sinh là gì, thế nào là biến công cụ phù hợp và hai phương pháp cơ bản để giải quyết biến nội sinh là ước lượng IV và 2SLS.

Tham khảo chi tiết:



Các ước lượng Fixed Effect (FE), Random Effect (RE) thích hợp sử dụng trong các mô hình bảng tĩnh tuyến với số mốc thời gian T tương đối nhỏ và không tồn tại vấn đề biến nội sinh trong mô hình. Cơ sở cho việc lựa chọn FE, RE so với Pooled OLS là sự tồn tại của các thành phần đặc trưng riêng cho mỗi đối tượng không thay đổi theo thời gian (không quan sát được). Còn việc lựa chọn giữa ước lượng FE với RE dựa trên giả thuyết về sự tương quan của các biến giải thích với thành phần đặc trưng riêng nêu trên (cơ sở của giả thuyết H0 trong kiểm định Hausman). Dưới điều kiện của giả thuyết H0 thì RE là ước lượng hiệu quả. Do vậy, chấp nhận H0 thì RE là ước lượng phù hợp, ngược lại, bác bỏ H0 thì FE là ước lượng lựa chọn (FE luôn là ước lượng tin cậy cho cả H0 và H1). Trên Stata, ước lượng FE, RE lần lượt được thực hiện bằng câu lệnh xtreg với tùy chọn tương ứng là fe và re. Ngoài ra, cũng cần phân biệt giữa ước lượng with-in (chính là ước lượng FE) và ước lượng between (tùy chọn be).

Tham khảo chi tiết:

  • https://vietlod.com/tong-hop-cac-kiem-dinh-trong-du-lieu-bang
  • https://vietlod.com/mo-hinh-du-lieu-bang-fem-rem


Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu bảng (Panel Unit Root Test) là bước đầu tiên quan trọng nhất trong quy trình ước lượng và kiểm định dữ liệu bảng. Tùy vào tính đồng nhất và tính độc lập của các đơn vị bảng mà có nhiều nhóm phương pháp kiểm tra tính dừng dữ liệu bảng như nhóm kiểm định đồng nhất (LLC, Breitung, Hardi), nhóm kiểm định không đồng nhất (IPS, Fisher) hoặc nhóm có sự phụ thuộc chéo như Pesaran (2003)... Trên Stata, chúng ta có thể thực hiện kiểm tra nghiệm đơn vị bảng qua các lệnh như xtunitroot, multpurt...

Tham khảo chi tiết:


Các mô hình dữ liệu bảng tuyến tính cổ điển



Các mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) hoặc mô hình tác động cố định (FEM) được gọi chung là mô hình dữ liệu bảng tuyến tính cổ điển, hoặc đôi khi còn gọi là mô hình dữ liệu bảng tuyến tính TĨNH. Các đặc tính “cổ điển” hoặc “tĩnh” của mô hình dữ liệu bảng trên sẽ lần lượt được hệ thống lại ở phần trình bày bên dưới.

Đầu tiên, chúng ta bắt đầu ôn lại các giả định của mô hình dữ liệu bảng tuyến tính cổ điển (classic linear panel model). Tiếp đến, từ giả định của mô hình chung chúng ta sẽ lần lượt đi vào từng mô hình cụ thể (Fixed effect, Random effect và Random coefficient) với các phương pháp ước lượng FE (classic FE, LSDV, FD), phương pháp RE và RC.
https://vietlod.com/mo-hinh-du-lieu-bang-tuyen-tinh-co-dien

Các hạn chế của mô hình FEM vs REM


Mô hình FEM vs REM còn được gọi là mô hình dữ liệu bảng tuyến tính cổ điển. Mô hình FEM vs REM là 2 mô hình phổ biến để ước lượng dữ liệu bảng. Tuy nhiên, cả 2 mô hình FEM vs REM đều gặp các vấn đề về tính ngoại sinh ngặt, tính nội sinh của biến, cũng như các vấn đề liên quan đến tính chất động của mô hình dữ liệu bảng. Bài viết sau sẽ làm rõ các hạn chế của 2 mô hình FEM vs REM này
https://vietlod.com/han-che-cua-mo-hinh-fem-rem

Kiểm định tự tương quan và ràng buộc quá mức trong GMM



Kiểm định Sargan/Hansen được sử dụng để kiểm tra sự hợp lý của các biến đại diện sau ước lượng GMM. Ngoài ra, Arellano và Bond phát triển một kiểm định khác để phát hiện các độ trễ không phù hợp của các biện đại diện, gọi là sự tự tương quan trong thành phần sai số đo lường (idiosyncratic disturbance term), εit. Dĩ nhiên sai số chung, εit, của mô hình được giả định tự tương quan bởi vì nó bao gồm các ảnh hưởng cố định, và các ước lượng được xây dựng để loại bỏ các ảnh hưởng này. Nhưng nếu vit tự tương quan với chính nó ở độ trễ bằng 1, chẳng hạn, yi,t–2 thì các biến nội sinh sẽ có tương quan với νi,t–1 trong thành phần sai phân của sai số, Δεit=νit–νi,t–1.
https://vietlod.com/kiem-dinh-tu-tuong-quan-va-rang-buoc-qua-muc

Diễn giải câu lệnh xtabond2 trên Stata



Câu lệnh xtabond2 được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu sử dụng ước lượng GMM. Câu lệnh xtabond2 cho phép thực hiện cả lượng S-GMM và D-GMM. Tuy nhiên, việc hiểu và thực hiện được các thiết lập phù hợp cho mô hình ước lượng không phải là điều dễ dàng với nhiều người. Nhất là các thiết lập liên quan đến lựa chọn độ trễ của biến các công cụ dạng sai phân và dạng gốc (level) cũng như dạng phương trình mà chúng cần mô tả. Các thiết lập không đúng có thể dẫn đến các kết quả không phù hợp trong kiểm định Sargan/Hansen... Bài viết bên dưới diễn giải chi tiết ý nghĩa các tùy chọn quan trọng trong câu lệnh xtabond2, việc hiểu các tùy chọn này là điều kiện cần thiết để có một kết quả ước lượng GMM phù hợp.
https://vietlod.com/dien-giai-cau-lenh-xtabond2-trong-uoc-luong-gmm

Tổng hợp các kiểm định quan trọng trong dữ liệu bảng



Trong phân tích dữ liệu bảng, tính dừng của các biến chuỗi cần được xem xét kiểm định đầu tiên. Tiếp đến là kiểm tra các tác động riêng rẻ của mỗi đối tượng hoặc của điểm thời gian là cố định hoặc ngẫu nhiên, dồng thời cũng nên quan tâm đến tính ổn định của hệ số ước lượng theo các nhóm qua kiểm định Chow – Test. Tính nội sinh của biến cũng cần được xem xét khi chúng ta có lý do nghi ngờ tồn tại một/các biến có mối quan hệ chặt với một số biến trong mô hình. Sau khi hoàn tất các kiểm định trên thì mô hình mới được ước lượng. Kết quả ước lượng sau khi thỏa mãn các kiểm định về phương sai thay đổi, sự tự tương quan sẽ được sử dụng để phân tích, suy diễn thống kê. Bài viết này bao gồm 5 mục như sau:


  • Mục 1 sẽ trình bày về kiểm định nghiệm đơn vị;
  • Mục 2: kiểm tra tính ngẫu nhiên của các tác động riêng rẻ để lựa chọn FEM hay REM;
  • Mục 3 sẽ kiểm tra tính ổn định của các hệ số ước lượng qua Chow test;
  • Mục 4: kiểm tra biến nội sinh trong mô hình;
  • Mục 5 sẽ đề cập đến vấn đề phương sai thay đổi và tự tương quan của phần dư trong mô hình.


https://vietlod.com/tong-hop-cac-kiem-dinh-trong-du-lieu-bang

Sử dụng GMM khi nào?


Có 2 vấn đề quan trọng tiềm ẩn liên quan đến thành phần sai số trong một mô hình dữ liệu bảng, đó là:


  1. Sự tương quan giữa các biến giải thích với tác động riêng rẽ;
  2. Sự tương quan giữa các biến giải thích với thành phần sai số nhiễu;

Sự tồn tại của 1 trong 2 (hoặc cả 2) vấn đề này làm cho kết quả ước lượng của OLS sẽ bị chệch hoặc không hiệu quả, đó chính là lí do chọn GMM làm phương pháp ước lượng thay thế.

Thật vậy, để giải quyết 2 vấn đề này, trong mô hình bảng tĩnh tuyến tính chúng ta có thể sử dụng ước lượng tác động cố định (LSDV, FD hoặc FE) để loại bỏ thành phần tác động riêng rẽ (vấn đề 1); hoặc sử dụng ước lượng tác động ngẫu nhiên để kiểm soát vấn đề 2.
https://vietlod.com/van-de-cua-fem-rem-va-li-do-chon-gmm

Cở sở chọn GMM so với ước lượng FE, RE



Mỗi dạng mô hình sẽ có những phương pháp ước lượng phù hợp. Mô hình động sẽ có phương pháp động để ước lượng và ngược lại mô hình tĩnh sẽ có phương pháp tĩnh để ước lượng. Trong trường hợp dữ liệu bảng, phương pháp động được biết đến nhiều nhất chính là GMM (IV-GMM, D-GMM, S-GMM) và phương pháp tĩnh thường được sử dụng là các phương pháp ước lượng bảng tuyến tính cổ điển (LSDV, FE/FD, RE). Việc sử dụng các phương pháp ước lượng không phù hợp cho mô hình đang xét có thể dẫn đến các vấn đề về độ tin cậy (bị chệch), tính hiệu quả của kết quả ước lượng. Sau đây là phần lý do lựa chọn S-GMM so với các phương pháp ước lượng dữ liệu bảng. Nội dung gồm 2 phần: phần đầu là cơ sở lựa chọn giữa GMM với nhóm phương pháp ước lượng bảng tĩnh tuyến tính, tiếp đến là cơ sở lựa chọn S-GMM với D-GMM.
https://vietlod.com/co-so-lua-chon-gmm-vs-ols-fem-rem

Các kiểm định cần thiết cho mô hình GMM



GMM là một phương pháp ước lượng tổng quát. Ước lượng GMM có thể giải quyết các vấn đề liên quan đến tính nội sinh của biến, vấn đề tự tương quan của phần dư, khắc phục sự tương quan giữa các tác động riêng rẻ với các biến giải thích trong mô hình bảng tĩnh tuyến tính. Tuy nhiên, trước khi lựa chọn phương pháp GMM, chúng ta cần thiết phải kiểm tra tính dừng cũng như mối quan hệ đồng kết hợp giữa biến phụ thuộc và các biến giải thích. Nếu các biến này không tồn tại bất kì mối quan hệ đồng kết hợp nào thì ước lượng GMM sẽ là phương pháp phù hợp. Tiếp đến, để đảm bảo tính hiệu quả và độ tin cậy của kết quả ước lượng thì rất cần thiết phải kiểm tra các giả thuyết liên quan như sự tự tương quan của phần dư, biến đại diện yếu, tính vững của hệ số ước lượng. Phần tổng hợp các kiểm định trong GMM sau đây bao gồm 6 kiểm định liên quan, bắt đầu từ kiểm định sự tự tương quan của phần dư, kiểm tra tính phù hợp của mô hình & biến đại diện, kiểm tra tính hợp lý của các biến đại diện sai phân, kiểm tra sự cần thiết của biến giả thời gian, kiểm tra tính vững của hệ số ước lượng và cuối cùng là kiểm tra các biến đại diện yếu.
https://vietlod.com/tong-hop-cac-kiem-dinh-trong-gmm

Kiểm định mối quan hệ đồng tích hợp trong dữ liệu bảng



Tiếp theo bài kiểm tra tính dừng của biến chuỗi thời gian trong mô hình dữ liệu bảng, cần thiết kiểm tra mối quan hệ đồng kết hợp của các biến chuỗi bởi điều này có thể dẫn đến vấn đề hồi quy mơ hồ (spurious regression) khi các biến không có mối quan hệ đồng kết hợp (cointegration). Xác định rõ mối quan hệ đồng kết hợp sẽ tiền đề quan trọng giúp chúng ta lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp. Phần trình bày bên dưới được biên dịch từ tài liệu (Baltagi, 2008 trang 378) phần Cointegration nhằm làm rõ hơn khái niệm đồng kết hợp.
https://vietlod.com/kiem-tra-moi-quan-he-dong-ket-hop

Mô hình đồng tích hợp trong dữ liệu bảng, MG PMG



Trong dữ liệu liên quan đến thời gian như dữ liệu thời gian hoặc dữ liệu bảng, điều cần thiết và quan trọng trước khi lựa chọn phương pháp ước lượng là phải kiểm tra tính dừng và mối quan hệ đồng kết hợp của các biến chuỗi. Đối với dữ liệu thời gian, nếu tồn tại mối quan hệ đồng kết hợp giữa các biến chuỗi thời gian thì mô hình VECM sẽ được sử dụng thay thế mô hình VAR. Trong dữ liệu bảng, các phương pháp như Pooled OLS, FE/FD, RE, GMM chỉ tin cậy trong trường hợp các biến chuỗi không có mối quan hệ đồng kết hợp. Nghĩa là các mô hình này không xét đến mối quan hệ đồng kết hợp (các tác động trong dài hạn) giữa các biến. Ngược lại, nếu tồn tại các mối quan hệ đồng kết hợp hay tồn tại các tác động dài hạn thì các phương pháp trên sẽ không còn nhất quán (tin cậy). Trong trường hợp này, phương pháp PMG do Pesaran và Smith (1995), Pesaran (1997), và Pesaran, Shin và Smith (1999) xây dựng sẽ là một phương pháp thay thế phù hợp.
https://vietlod.com/var-vs-vecm-dong-ket-hop-trong-du-lieu-bang

Kiểm định tính dừng trong dữ liệu bảng



Tính dừng của biến chuỗi luôn là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong dữ liệu thời gian và đặc biệt là dữ liệu bảng. Bởi theo Baltagi (2008, trang 374) chúng ta KHÔNG THỂ áp dụng các tính chất liên quan đến PHÂN PHỐI CHUẨN cho các biến KHÔNG DỪNG (nonstationary variables), chẳng hạn, các trị thống kê t, F nhận được từ phương trình hồi quy của những biến KHÔNG DỪNG này sẽ không có PHÂN PHỐI CHUẨN (Durlauf và Phillips, 1988). Ngoài ra, việc không xác định rõ tính dừng của các biến chuỗi có thể dẫn đến vấn đề hồi quy mơ hồ (spurious regression) khi các biến không có mối quan hệ đồng kết hợp (cointegration). Bài viết trình bày về bước ngẫu nhiên, chuỗi dừng và kiểm định tính dừng dựa trên tài liệu của Baltagi (2008) phần Unit root (trang 373).

Theo Baltagi (2008, trang 356), một chuỗi ngẫu nhiên Yt được xem là dừng nếu như trung bình và phương sai của chuỗi không thay đổi theo thời gian và giá trị đồng phương sai giữa hai thời đoạn chỉ phụ thuộc vào khoảng cách hay độ trễ về thời gian giữa hai thời đoạn chứ không phụ thuộc vào thời điểm thực tế mà đồng phương sai được tính.
https://vietlod.com/kiem-dinh-tinh-dung-qua-nghiem-don-vi

Hướng dẫn ước lượng và đọc kết quả mô hình DSGE

Các mô hình cân bằng động ngẫu nhiên tổng quát (DSGE) được sử dụng phổ biến bởi các nhà kinh tế học vĩ mô để mô hình hóa nhiều chuỗi thời gian. Một mô hình DSGE dựa trên nhiều lý thuyết kinh tế. Một lý thuyết sẽ có phương trình cho biết các cá nhân hoặc các khu vực hành xử như thế nào và chúng tương tác ra sao trong nền kinh tế. Mô hình là một hệ thống các phương trình mà trong đó các thông số của nó có thể được liên kết đồng thời với các quyết định của các chủ thể kinh tế. Trong nhiều lý thuyết kinh tế, các cá nhân hành động dựa một phần vào các giá trị mà họ mong đợi trong tương lai, không chỉ trên các giá trị ở thời điểm hiện tại. Sức mạnh của các mô hình DSGE là chúng kết hợp những kỳ vọng này một cách rõ ràng, không giống như các mô hình khác của chuỗi thời gian.
https://vietlod.com/huong-dan-uoc-luong-va-phan-tich-mo-hinh-dsge-stata

Minh họa thực hiện ước lượng mô hình PTR trên Stata



Các mô hình ngưỡng được sử dụng rộng rãi trong kinh tế vĩ mô và phân tích tài chính để giải thích các mối quan hệ phi tuyến giữa các biến. Bên cạnh các mô hình tự hồi quy ngưỡng (Threshold AutoRegressive – TAR) của Tong (1983) sử dụng trong dữ liệu thời gian thì các mô hình hồi quy ngưỡng của Hansen (1999) hay mô hình hồi quy bảng chuyển tiếp nhẵn (PSTR) của Gonzalez và các cộng sự năm 2005 lại được sử dụng ngày càng phổ biến trong dữ dữ liệu bảng. Không giống như dữ liệu thời gian, việc ước lượng và phân tích kết quả của mô hình hồi quy ngưỡng trong dữ liệu bảng thường rất phức tạp do tính không đồng nhất của các quan sát trong tập dữ liệu. Bài viết này sẽ minh họa cách ước lượng mô hình ngưỡng PTR của Hansen (1999).

Phần trình bày bên dưới sẽ minh họa cách ước lượng mô hình PTR trên Stata thông qua câu lệnh xthreg. Câu lệnh này được tích hợp sẳn trong phiên bản Stata 14.
https://vietlod.com/minh-hoa-uoc-luong-mo-hinh-ptr-hansen-1999-tren-stata

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.